User Tools

Site Tools


328730-kanishka-la-gi

Differences

This shows you the differences between two versions of the page.

Link to this comparison view

328730-kanishka-la-gi [2018/11/07 17:10] (current)
Line 1: Line 1:
 +<​HTML><​br><​div><​table class="​infobox"​ style="​width:​22em"><​tbody><​tr><​th colspan="​2"​ style="​text-align:​center;​font-size:​125%;​font-weight:​bold;​background:​ #a2d736; color: black;">​Kanishka I</​th></​tr><​tr><​td colspan="​2"​ style="​text-align:​center">​
 +Vua Quý Sương <​small/></​td></​tr><​tr><​td colspan="​2"​ style="​text-align:​center">​
 +<img alt="​KanishkaCoin3.JPG"​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​a/​a6/​KanishkaCoin3.JPG/​270px-KanishkaCoin3.JPG"​ width="​270"​ height="​261"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​a/​a6/​KanishkaCoin3.JPG/​405px-KanishkaCoin3.JPG 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​a/​a6/​KanishkaCoin3.JPG/​540px-KanishkaCoin3.JPG 2x" data-file-width="​1036"​ data-file-height="​1000"/><​div><​small>​Đồng tiền vàng hình <​b>​Kanishka I</b> (năm 150 CN). Kanishka đứng với tư thế mặc trùm lên với áo choàng và đeo giày ống, lửa từ vai, giữ cây cột bằng tay trái, và làm lễ tế thần trên bàn thờ. Người Đại Hạ có truyền thuyết trong nguyên bản tiếng Hy Lạp (với phần cộng thêm với Quý Sương Ϸ "​sh"​ letter): ϷΑΟΝΑΝΟϷΑΟ ΚΑΝΗϷΚΙ ΚΟϷΑΝΟ ("​Shaonanoshao Kanishki Koshano"​):​ "​Đức vua vĩ đại Kanishka người Quý Sương"​.</​small></​div></​td></​tr><​tr><​th scope="​row">​Tại vị</​th><​td>​
 +127 - 151</​td></​tr><​tr><​th scope="​row">​Đăng quang</​th><​td>​
 +127</​td></​tr><​tr><​th scope="​row">​Tiền nhiệm</​th><​td>​
 +Vima Kadphises</​td></​tr><​tr><​td colspan="​2"​ style="​text-align:​center">​
 +Huvishka</​td></​tr><​tr><​th colspan="​2"​ style="​text-align:​center;​background:​ #​a2d736;">​Thông tin chung</​th></​tr><​tr><​th scope="​row">​Tên đầy đủ</​th><​td>​
 +Kanishka (I)</​td></​tr><​tr><​th scope="​row">​Tước vị</​th><​td>​
 +<table width="​100%"​ class="​collapsible collapsed"​ cellpadding="​0"​ cellspacing="​0"​ style="​background:​ transparent;"><​tbody><​tr><​th style="​font-weight:​ normal">​Tước vị
 +</​th></​tr><​tr><​td>​Vua của các vị vua, Vị cứu tinh vĩ đại, Con của Thượng đế, Đức Shah, Người Quý Sương
 +</​td></​tr></​tbody></​table></​td></​tr></​tbody></​table><​p><​b>​Hoàng đế Kanishka</​b>​ (tiếng Phạn: <span lang="​sa">​कनिष्क</​span>,​ Tiếng Đại Hạ: <​i><​span class="​Unicode"​ style="​font-family:'​TITUS Cyberbit Basic',​ '​Code2000',​ '​Doulos SIL', '​Chrysanthi Unicode',​ '​Bitstream Cyberbit',​ 'Arial Unicode MS', '​Bitstream CyberBase',​ '​Bitstream Vera', '​Gentium',​ '​GentiumAlt',​ '​Gentium Alternative',​ '​Visual Geez Unicode',​ '​Lucida Grande',​ '​Lucida Sans Unicode';​ font-family ​ :​inherit;">​Κανηϸκι</​span></​i>,​ Trung Cổ Hán ngữ: 迦腻色伽) là vua của vương quốc Quý Sương ở Trung Á, là người Quý Sương thuộc tộc Nguyệt Chi.
 +</​p><​p>​Âm Hán-Việt của Kanishka là <b>Ca Nị Sắc vương</​b>,​ <b>Ca Nị Sắc Ca</​b>,​ <​b>​Kế Nị Ca vương</​b>,​ <​b>​Đàn Kế Nị vương</​b>,​ <​b>​Cát Ni Thi Cát vương</​b>​ hay <b>Ca Nị Sắt Tra vương</​b>​.
 +</p>
  
 +
 +
 +<​p>​Vào thế kỷ III, những người Scythia và Quý Sương đến định cư ở Afghanistan và Pakistan phía tây bắc lục địa Ấn Độ, làm thay đổi sâu sắc lịch sử các xứ này đến ngày nay.<sup id="​cite_ref-KA_1-0"​ class="​reference">​[1]</​sup>​ Vào thiên niên kỷ thứ nhất, một vị vua nổi tiếng là <​b>​Kanishka</​b>​ của đế quốc Quý Sương, hậu duệ các dân tộc trên, đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển Phật giáo Đại thừa, sau truyền bá sang Trung Quốc. Ông nói một ngôn ngữ Đông Iran, Ấn-Âu được gọi là tiếng Đại Hạ xuất hiện nguyên bản từ tiếng Hy Lạp, tuy nhiên nó không phải chắc chắn là tiếng người gốc Quý Sương nói.
 +</​p><​p>​Kanishka là người kế vị của Vima Kadphises, theo bi văn Rabatak, một thế phả ghi trên đá bằng tiếng Đại Hạ và Hy Lạp.<​sup id="​cite_ref-2"​ class="​reference">​[2]</​sup><​sup id="​cite_ref-3"​ class="​reference">​[3]</​sup></​p><​p>​Vô số truyền thuyết về ông nay còn được giữ gìn trong kho tàng truyền thuyết Phật giáo. Kinh sách Phật giáo ca ngợi ông, và đặt ông ngang hàng với những vị vua lớn khác của đạo Phật như A-dục vương vào 3 thế kỷ trước, vua Menandros I của Ấn-Hy Lạp vào thế kỷ thứ II TCN, các vua nhà Gupta thế kỷ thứ V và vua Hashavardhana vào thế kỷ thứ V.<sup id="​cite_ref-KA_1-1"​ class="​reference">​[1]</​sup></​p>​
 +<​h2><​span id="​V.E1.BA.A5n_.C4.91.E1.BB.81_d.C3.B2ng_d.C3.B5i_v.C3.A0_th.E1.BB.9Di_gian_tr.E1.BB.8B_v.C3.AC"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Vấn_đề_dòng_dõi_và_thời_gian_trị_vì">​Vấn đề dòng dõi và thời gian trị vì</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h2>​
 +<​p><​b>​Kanishka</​b>​ kế vị vua Vima Kadphises năm 127. Kanishka dường như không trực thuộc dòng  của tiên đế Kadphises. Vấn đề này vẫn chưa được sáng tỏ, các ý kiến cũng không trùng khớp nhau: phải chăng ông thuộc dòng khác như Khiết Đan từ Tân Cương, hoặc là 1 tiểu vương Ấn Độ đã cướp được ngôi vua.
 +</​p><​p>​Kanishka được xem là một vị vua vĩ đại của vương quốc Quý Sương, kinh sách Phật giáo Đại thừa cũng ca tụng ông, xem ông như một <​b>​Hộ pháp vương</​b>​ kiệt xuất. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu lịch sử ở vùng thung lũng tây bắc Ấn Độ chưa có thể khảo sát tường tận nên chưa có sự thống nhất về thời gian ông trị vì: theo một thuyết, ông trị vì từ năm 78 đến 103,<sup id="​cite_ref-KA_1-2"​ class="​reference">​[1]</​sup>​ thuyết khác lại bảo là từ 78 đến 144, song cũng có người cho là từ 100 đến 164 hoặc từ 128 đến 151.<sup id="​cite_ref-KA_1-3"​ class="​reference">​[1]</​sup></​p><​p>​Đã 3 lần hội nghị chuyên đề được họp tại Luân Đôn để giải quyết việc này, nhưng vẫn chưa có sự đồng nhất về thời gian trị vì của ông. Gần đây, những thảo luận thường tập trung và chú ý vào thời kì 100 - 140.<sup id="​cite_ref-KA_1-4"​ class="​reference">​[1]</​sup>​ Song vào năm 2004, Harry Falk đã khám phá ra rằng triều đại của Kanishka đã được dân Quý Sương xưa dùng làm năm đầu của lịch mới trong suốt một thế kỷ cho đến khi đế quốc bị tan rã, có nên nhiều người tin là Kanishka đã đăng quang năm 127 hơn.<​sup id="​cite_ref-4"​ class="​reference">​[4]</​sup></​p>​
 +
 +<​h3><​span id="​M.E1.BB.99t_.C4.91.E1.BA.BF_qu.E1.BB.91c_ph.E1.BB.93n_th.E1.BB.8Bnh"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Một_đế_quốc_phồn_thịnh">​Một đế quốc phồn thịnh</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<​p>​Ông được xem là vị vua vĩ đại của vương quốc Quý Sương.<​sup id="​cite_ref-TVHS_5-0"​ class="​reference">​[5]</​sup>​ Nhờ những di tích khảo cổ và trong văn học Phật giáo, người ta biết được về cuộc đời của vua Kanishka. Lúc ông lên ngôi, Quý Sương đã là một đế quốc hùng mạnh, nhưng ông vẫn bành trướng thêm. Ông xâm chiếm các tiểu quốc quanh vùng, đặc biệt là về phía đông. Sự bành trướng này nhằm mục đích:
 +</p>
 +<​p>​Kanishka đóng đô ở Purushapura,​ bây giờ là Peshawar ở  Pakistan, nằm ở vùng thượng lưu sông Hằng và sông Ấn. Đế quốc Quý Sương rất rộng lớn. Những cuộc chinh phạt của ông góp phần giúp cho Quý Sương kiểm soát Con đường tơ lụa, nơi giao lưu giữa các nền văn minh lớn trên thế giới thời đó, điển hình như La Mã (thời các hoàng đế Trajan và Hadrian: 98 - 138) ở phương Tây hay Trung Quốc ở phương Đông.
 +</p>
 +<​h3><​span id="​M.E1.BB.99t_v.E1.BB.8B_vua_s.C3.B9ng_Ph.E1.BA.ADt_gi.C3.A1o"/><​span class="​mw-headline"​ id="​Một_vị_vua_sùng_Phật_giáo">​Một vị vua sùng Phật giáo</​span><​span class="​mw-editsection"><​span class="​mw-editsection-bracket">​[</​span>​sửa<​span class="​mw-editsection-divider">​ | </​span>​sửa mã nguồn<​span class="​mw-editsection-bracket">​]</​span></​span></​h3>​
 +<​p>​Kanishka đã khuyến khích cho nghệ thuật Hy Lạp - Phật giáo đạt đến tột đỉnh, tạo nên nền văn minh Gandhara.
 +</​p><​p>​Hoàng đế Kanishka có nét giống với A-dục vương, là xây dựng rất nhiều đền đài. Ông đã cho xây đại tháp Peshawar thờ xá lợi Phật, được cất bằng gỗ cao 400 bộ, khu Sirsukh ở Taxila, ngôi thành ở Kashmir…, nay hãy còn dấu tích.
 +</​p><​p>​Ông đã tổ chức kết tập kinh điển ở Jālandhar Kashmīrthat,​ Kashmir<​sup id="​cite_ref-6"​ class="​reference">​[6]</​sup>​ Kết quả của lần kết tập này là sự hình thành của Phái Đại thừa Mahayana, tách rời khỏi phái Thượng tọa bộ Nikaya.<​sup id="​cite_ref-TVHS_5-1"​ class="​reference">​[5]</​sup>​ Ông còn cho lưu giữ nhiều bản kinh đại thừa viết bằng tiếng Prakrit, thổ ngữ của Gandhara. Sau này, những bản kinh đó được dịch sang kiểu văn chương tiếng Phạn, và được truyền sang phương Đông theo Con đường tơ lụa. (Foltz – "​Religions on the Silk Road"​),​
 +</​p><​p>​Triều đại ông được xem là một thời kì huy hoàng của Phật giáo. Đây là thời đại của những đại luận gia Phật giáo như Nagarjuna (Long Thụ), Asvaghosha (Mã Minh) và Vasumitra (Bà-tu Mật-đa: Thế Hữu). Người "cha đẻ của nền y học của Ấn Độ",​ Charaka, là ngự y trong triều đình Kanishka.<​sup id="​cite_ref-TVHS_5-2"​ class="​reference">​[5]</​sup></​p>​
 +
 +
 +<div class="​reflist"​ style="​list-style-type:​ decimal;">​
 +<ol class="​references"><​li id="​cite_note-KA-1">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​b</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​c</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Vua Kanishka và sự phát triển của Đại thừa Phật giáo</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-2"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Nicholas Sims-Williams and Joe Cribb (1995/6): "A New Bactrian Inscription of Kanishka the Great."​ <​i>​Silk Road Art and Archaeology</​i>​ 4 (1996), pp. 75-142.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-3"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Nicholas Sims-Williams (1998): "​Further notes on the Bactrian inscription of Rabatak, with an Appendix on the names of Kujula Kadphises and Vima Taktu in Chinese."​ <​i>​Proceedings of the Third European Conference of Iranian Studies Part 1: Old and Middle Iranian Studies</​i>​. Edited by Nicholas Sims-Williams. Wiesbaden. 1998, pp. 79-93.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-4"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Falk,​ Harry (2001): "The yuga of Sphujiddhvaja and the era of the Kuṣâṇas."​ Silk Road Art and Archaeology VII, tr. 121-136.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-TVHS-5">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Những hộ pháp vương Phật giáo</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-6"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Trong văn học Phật giáo, vùng đất này thường được gọi là xứ Ô Trượng Na (Udỳanna).</​span>​
 +</li>
 +</​ol></​div>​
 +
 +<table role="​presentation"​ class="​mbox-small plainlinks sistersitebox"​ style="​background-color:#​f9f9f9;​border:​1px solid #​aaa;​color:#​000"><​tbody><​tr><​td class="​mbox-image"><​img alt=""​ src="​http://​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​30px-Commons-logo.svg.png"​ width="​30"​ height="​40"​ srcset="//​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​45px-Commons-logo.svg.png 1.5x, //​upload.wikimedia.org/​wikipedia/​commons/​thumb/​4/​4a/​Commons-logo.svg/​59px-Commons-logo.svg.png 2x" data-file-width="​1024"​ data-file-height="​1376"/></​td>​
 +<td class="​mbox-text plainlist">​Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về <​i><​b><​span>​Kanishka</​span></​b></​i></​td></​tr></​tbody></​table><​!-- ​
 +NewPP limit report
 +Parsed by mw1305
 +Cached time: 20181014170138
 +Cache expiry: 1900800
 +Dynamic content: false
 +CPU time usage: 0.252 seconds
 +Real time usage: 0.307 seconds
 +Preprocessor visited node count: 974/1000000
 +Preprocessor generated node count: 0/1500000
 +Post&#​8208;​expand include size: 20899/​2097152 bytes
 +Template argument size: 1810/​2097152 bytes
 +Highest expansion depth: 10/40
 +Expensive parser function count: 0/500
 +Unstrip recursion depth: 0/20
 +Unstrip post&#​8208;​expand size: 2882/​5000000 bytes
 +Number of Wikibase entities loaded: 0/400
 +Lua time usage: 0.137/​10.000 seconds
 +Lua memory usage: 10.19 MB/50 MB
 +--><​!--
 +Transclusion expansion time report (%,​ms,​calls,​template)
 +100.00% ​ 239.960 ​     1 -total
 + ​57.24% ​ 137.356 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Lang-sa
 + ​22.87% ​  ​54.882 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Th&​ocirc;​ng_tin_nh&​acirc;​n_v&#​7853;​t_ho&​agrave;​ng_gia
 + ​18.74% ​  ​44.971 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​H&#​7897;​p_th&​ocirc;​ng_tin
 +  6.46%   ​15.493 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​C&​aacute;​c_ch&#​7911;​_&#​273;&#​7873;​
 +  5.55%   ​13.327 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​C&​aacute;​c_ch&#​7911;​_&#​273;&#​7873;/​Khung
 +  5.26%   ​12.630 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Th&#​7875;​_lo&#​7841;​i_Commons
 +  4.52%   ​10.847 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​D&#​7921;​_&​aacute;​n_li&​ecirc;​n_quan
 +  3.46%    8.301      1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​H&#​7897;​p_b&​ecirc;​n
 +  3.27%    7.846      1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Tham_kh&#​7843;​o
 +--><​!-- Saved in parser cache with key viwiki:​pcache:​idhash:​442247-0!canonical and timestamp 20181014170138 and revision id 40639828
 + ​--></​div>​
 +
 +</​HTML>​
328730-kanishka-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:10 (external edit)